Đề bài: Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng Lăng Bác

Bài làm:

Bác Hồ – người cha già, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, Bác đã không quản khó khăn hi sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bác mất đi là cả một sự mất mát lớn đối với dân tộc ta, sinh thời không chỉ là nhà cách mạng, chính trị kiệt suất mà Bác còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của nền văn học dân tộc. Đã có rất nhiều các nhà thơ, nhà văn viết những tác phẩm tưởng nhớ Bác cũng như bày tỏ niềm đau xót, tiếc thương vô bờ trước sự ra đi của Bác , trong đó có Viễn Phương với bài thơ “Viếng Lăng Bác” là một trong những bài thơ nói về nỗi niềm ấy.

Bài thơ “Viếng Lăng Bác” được tác giả Viễn Phương viết vào tháng 4 năm 1976 sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất hai miền, nhà thơ từ miền Nam ra thăm, viếng Lăng Bác mới mới được khánh thành trước đó không lâu. Bài thơ “Viếng Lăng Bác” được tác giả sáng tác trọng dịp đó và được in trong tập thơ “Như mây mùa xuân” – 1978. Bài thơ cũng đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc thành bài hát cùng tên “Viếng Lăng Bác”.

Bài thơ gồm bốn khổ thơ tất cả nhưng mỗi khổ thơ thể hiện những tình cảm khác nhau của tác giả. Đến với khổ thơ đầu tiên tác giả viết:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

Tác giả sủa dụng từ “con” để thể hiện cách xưng hô gần gũi với Bác Hồ là cảm giác máu thịt cha con, lãnh tụ không phải xa lạ với mỗi chúng ta mà Bác là người Cha của tất cả dân tộc. “Ở miền Nam ra thăm lăng Bác” là tác giả thể hiện qũang đường xa xôi nhưng không thể nào ngăn được thứ tình cảm “cha – con” thiêng liêng ấy với lãnh tụ. Thời điểm tác giả ra thăm lăng Bác là vừa lúc lăng được khánh thành, đất nước được thống nhất hai miền. Qua câu thơ đàu ta thấy được lòng yêu mến của tác giả đối với Bác Hồ tuy ở  miền Nam xa xôi nhưng không quản ngại đến viếng Bác bằng cả trái tim, tình yêu thương tha thiết với vị trí là một người “con”. Ba câu thơ tiếp:

Xem thêm:  Viết đoạn văn so sánh đặc điểm của thể tuỳ bút với thể truyện qua Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ và Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ

“ Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp, mưa sa đứng thẳng hàng.”

Trên con đường ra thăm lăng Bác tác giả “đã thấy trong sương” thể hiện tác giả ra thăm lăng thừ rất sớm từ lúc sáng sớm, mắt trời chưa lên vẫn còn những giọt sương sớm trển kẽ lá. Tác giả sử dụng điệp từ “hàng tre” cũng như nghệ thuật ẩn dụ ví hàng tre xanh kia là người dân đất Việt đang đứng xung quanh tiễn đươ Bác về nơi an nghỉ vĩnh hằng. “Tre” là một hình ảnh quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam chúng ta, là người bạn với quê hương, xóm lanf, cũng là bức tường chắc chắn che trở nhân dân ở đây được tác giả ẩn dụ là những người con đất Việt đang đứng tiễn đưa Bác, là thế hệ “xanh” của Tổ quốc sẽ tiếp nối xây dựng và phát triển đất nước giàu đẹp. Tiếp đến “bão táp, mưa sa” là những khó khăn trở ngại trong cuộc sống sắp tới mà nước nhà phải đối mặt nhưng hàng tre xanh “vẫn đứng thẳng hàng” thể hiện sự bất khuất của những người con đất Việt không chịu đầu hàng trước mọi hiểm nguy, gian nan, khó khăn trong cuộc sống.

Bước sang khổ thơ tiếp theo là một cảm xúc khác của tác giả, tác giả như đang đứng trong cuộc tiễn đưa Bác, hình ảnh của thiên nhiên, vũ trụ được ví von so sánh với tầm vóc vĩ đại của Bác trong hai câu đầu của khổ thơ:

Xem thêm:  Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng... Nuôi lớn đời ta tự buổi nào." (Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Tác giả ví tuy Bác đã ra đi nhưng Bác là một tấm gương sáng cho con cháu ngày đời học tập, loi theo, là ánh dương sáng nhất soi rọi con đường của mỗi người. Ánh sáng ấy còn thu hút được cả thiên nhiên, vũ trụ phải để ý đến qua nghệ thuật nhân hóa tài tình hình ảnh của “ mặt trời” của thiên nhiên “thấy” được “mặt trời trong lăng” là Bác Hồ “rất đỏ”. Sang hai câu thơ tiếp:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết một tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”

suy nghi cua em ve bai tho vieng lang bac - Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng Lăng Bác

Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng Lăng Bác

Tác giả sử dụng điệp từ “ngày ngày” thể hiện quảng thời gian đã lâu khi Bác mất đi nhưng những người con đất Việt vẫn “ngày ngày đi trong thương nhớ” tiễn đưa linh hồn Bác như vừa mới xảy ra cái mất mát, đau thương ấy. “Bảy mươi chin mùa xuân” ở đây tác giả ám chỉ Bác hưởng thọ 79 tuổi, từng ấy mùa xuân của cuộc đời Bác mùa xuân nào cũng đẹp.

Sang hai khổ thơ cuối tác giả bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác:

“ Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi”

Tác giả miêu tả giấc ngủ ngàn thu của Bác có “vầng trăng” làm bạn nên giấc ngủ ngàn thu được bình yên giống như trời xanh là mãi mãi. Nhưng lại “nghe nhói ở trong tim” tuy thực tại Bác đã yên ngủ ngàn thu nhưng nỗi đau mất Bác của nhân dân cả nước nói chung và chính tác giả nói riêng vẫn đang đau đáu khôn nguôi.

Xem thêm:  Em hãy viết đoạn văn giới thiệu về nhà thơ Thanh Hải và ý nghĩa hoàn cảnh ra đời bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Khổ thơ cuối cùng là lời chào tạm biệt của tác giả, kết thúc chuyến ghé thăm lăng của Bác:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm cành hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Tác giả sử dụng điệp từ ta muốn” thể hiện ước nguyện lớn lao của mình muốn ở lại quanh Bác nhưng vì hoàn cảnh “ngày mai” tác giả phải về miền Nam. Mở đầu bài thơ là hình ảnh của “giọt sương” ban mai thì kết túc bài thơ là hình ảnh củ agiojt “nước mắt” của chính tác giả khóc vì sắp phải xa Bác. “Con chim, cành hoa” là những hương sắc của cuộc đời tác giả như muốn cống hiến sức lực của bản thân cho Bác qua câu thơ cuối: “muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.

Qua bài thơ “Viếng Lăng Bác” của tác giả Viễn Phương bằng việc sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ, các từ thể hiện cám xúc tác giả đã vẽ nên không gian của lăng Bác một buổi tinh mơ. Tác giả thể hiện niềm tiếc thương vô bờ trước sự ra đi của Bác với ước muốn được ở bên cạnh cống hiến hết mình.

Hằng